Sáng Tạo Mới
Advertisement
  • Trang chủ
  • Tin tức
  • Lao động – Sáng Tạo
  • Khoa học – Công nghệ
  • Nhân vật
  • Thương hiệu
  • Văn Hóa – Xã Hội
Không có kết quả
Hiện thị tất cả kết quả
  • Trang chủ
  • Tin tức
  • Lao động – Sáng Tạo
  • Khoa học – Công nghệ
  • Nhân vật
  • Thương hiệu
  • Văn Hóa – Xã Hội
Sáng Tạo Mới
Không có kết quả
Hiện thị tất cả kết quả
Trang chủ Khoa học - Công nghệ

Những điểm đổi mới và kiến nghị hoàn thiện dự thảo luật sửa đổi, bổ sung Luật Bảo vệ môi trường năm 2026

Sau một thời gian thi hành, thực tiễn cho thấy nhiều quy định vẫn còn vướng mắc: Phân loại dự án chưa thật rõ; thủ tục ĐTM – giấy phép môi trường còn chồng lấn; vận hành thử nghiệm công trình xử lý chất thải chưa phù hợp với dự án phân kỳ hoặc chưa đủ công suất; quy định về chất thải làm nguyên liệu, sản phẩm tái chế, thị trường các-bon và dữ liệu môi trường còn thiếu cơ chế vận hành cụ thể.

21/04/2026
tại Khoa học - Công nghệ, Tin tức
0
Share on FacebookShare on Twitter

STVN – Sau một thời gian thi hành, thực tiễn cho thấy nhiều quy định vẫn còn vướng mắc: Phân loại dự án chưa thật rõ; thủ tục ĐTM – giấy phép môi trường còn chồng lấn; vận hành thử nghiệm công trình xử lý chất thải chưa phù hợp với dự án phân kỳ hoặc chưa đủ công suất; quy định về chất thải làm nguyên liệu, sản phẩm tái chế, thị trường các-bon và dữ liệu môi trường còn thiếu cơ chế vận hành cụ thể.

Nhóm tác giả:
TS. Trịnh Xuân Đức – Viện
trưởng, Viện Khoa học Kỹ thuật Hạ tầng và Môi trường (SIIEE)
TS. Nguyễn Trung Hiếu – Hiệp hội Công nghiệp Môi trường
Ths. Chu Văn Nam – Chuyên gia môi trường

  1. Tính cấp thiết của việc sửa đổi bổ sung luật BVMT

Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 là bước cải cách quan trọng trong hệ thống pháp luật môi trường Việt Nam, chuyển trọng tâm quản lý từ “kiểm soát thủ tục” sang “quản lý rủi ro môi trường”, từ tiếp cận xử lý cuối đường ống sang phòng ngừa, phân loại dự án theo mức độ tác động, tích hợp giấy phép môi trường, thúc đẩy kinh tế tuần hoàn và trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất. Tuy nhiên, sau một thời gian thi hành, thực tiễn cho thấy nhiều quy định vẫn còn vướng mắc: Phân loại dự án chưa thật rõ; thủ tục ĐTM – giấy phép môi trường còn chồng lấn; vận hành thử nghiệm công trình xử lý chất thải chưa phù hợp với dự án phân kỳ hoặc chưa đủ công suất; quy định về chất thải làm nguyên liệu, sản phẩm tái chế, thị trường các-bon và dữ liệu môi trường còn thiếu cơ chế vận hành cụ thể.
Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật BVMT ngày 31/03/2026 thể hiện định hướng cải cách mạnh theo ba trục chính:
– Đơn giản hóa thủ tục hành chính
– Tăng cường quản lý theo rủi ro và dữ liệu
– Bổ sung khung pháp lý cho kinh tế tuần hoàn, biến đổi khí hậu và thị trường các-bon.
Đây là hướng sửa đổi tích cực, phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế xanh, phát thải thấp và hội nhập quốc tế.

  1. Những điểm thay đổi tích cực của Dự thảo

2.1. Làm rõ hơn hệ thống khái niệm pháp lý mới

Một điểm tiến bộ là Dự thảo sửa đổi, bổ sung nhiều khái niệm tại Điều 3. Đặc biệt, khái niệm “Giấy phép môi trường” được thu hẹp về bản chất là văn bản cho phép xả nước thải, khí thải, xử lý chất thải nguy hại và nhập khẩu phế liệu kèm điều kiện bảo vệ môi trường. Cách định nghĩa này giúp phân biệt rõ hơn giữa giấy phép môi trường với các nghĩa vụ quản lý chất thải, quan trắc, báo cáo và hậu kiểm.
Dự thảo cũng bổ sung hàng loạt khái niệm mới về biến đổi khí hậu và thị trường các-bon như: Đóng góp do quốc gia tự quyết định – NDC, đơn vị thẩm định độc lập, trung hòa các-bon, thị trường các-bon, sàn giao dịch các-bon trong nước, định mức phát thải khí nhà kính trên đơn vị sản phẩm. Đây là bước hoàn thiện cần thiết vì Luật BVMT 2020 tuy đã đề cập đến thị trường các-bon nhưng còn thiếu nhiều khái niệm nền tảng để triển khai trên thực tế.

Việc xác định tín chỉ các-bon là quyền tài sản đặc thù là điểm rất tích cực, vì tạo cơ sở pháp lý cho giao dịch, chuyển nhượng, hạch toán tài chính, thế chấp, đầu tư và phát triển thị trường các-bon. Tuy nhiên, để quy định này khả thi, cần tiếp tục làm rõ mối quan hệ giữa tín chỉ các-bon với pháp luật dân sự, chứng khoán, thuế, kế toán và quản lý ngoại hối.
2.2. Cải cách phân loại dự án đầu tư theo hướng đơn giản và thực chất hơn

So với Luật BVMT 2020, Dự thảo sửa đổi Điều 28 theo hướng tập trung vào ba nhóm tiêu chí chính: Loại hình sản xuất – quy mô – công suất; diện tích sử dụng đất, mặt nước, khu vực biển, tài nguyên; và yếu tố nhạy cảm về môi trường. Dự án tiếp tục được chia thành nhóm I, nhóm II và nhóm III, nhưng cách diễn đạt trong Dự thảo ngắn gọn, rõ hơn và có tính khái quát cao hơn.
Điểm tích cực là Dự thảo xác định rõ: Dự án nhóm I có nguy cơ tác động xấu đến môi trường mức độ cao; dự án nhóm II có nguy cơ tác động xấu đến môi trường; dự án nhóm III ít có nguy cơ tác động xấu đến môi trường. Đây là cơ sở để thiết kế thủ tục ĐTM và giấy phép môi trường theo hướng phân tầng rủi ro, tránh áp dụng một quy trình nặng nề cho mọi loại dự án.
Tuy nhiên, quy định này vẫn phụ thuộc rất lớn vào nghị định hướng dẫn. Nếu nghị định không lượng hóa rõ “quy mô lớn”, “mức độ chiếm dụng lớn”, “khu vực có yếu tố nhạy cảm” và “loại hình nguy cơ gây ô nhiễm”, nguy cơ áp dụng không thống nhất giữa các địa phương vẫn còn.

2.3. Tách ĐTM thành ĐTM chi tiết và ĐTM đơn giản

Một đổi mới quan trọng là Dự thảo sửa Điều 30 theo hướng: Dự án nhóm I phải thực hiện đánh giá tác động môi trường chi tiết, còn dự án nhóm II thực hiện đánh giá tác động môi trường đơn giản. Đây là điểm cải cách lớn so với cơ chế hiện hành, vì Luật BVMT 2020 mới chủ yếu xác định đối tượng phải thực hiện ĐTM mà chưa tạo được sự phân cấp thật rõ giữa mức độ phức tạp của báo cáo.
Cách tiếp cận này có ý nghĩa thực tiễn rất lớn. Đối với dự án có nguy cơ cao như xử lý chất thải nguy hại, nhập khẩu phế liệu, hạ tầng khu công nghiệp, khai thác khoáng sản lớn, yêu cầu ĐTM chi tiết là cần thiết. Ngược lại, với dự án nhóm II, việc áp dụng ĐTM đơn giản có thể giảm gánh nặng thủ tục cho doanh nghiệp nhưng vẫn bảo đảm yêu cầu sàng lọc và kiểm soát môi trường.
Giải pháp giải quyết những bất cập trong xử lý chất thải rắn- Ảnh 1.

Hình 1. Xử lý chất thải rắn sinh hoạt hiện nay tại một số doanh nghiệp

Tuy nhiên, cần đặc biệt lưu ý: “ĐTM đơn giản” không được hiểu là ĐTM hình thức. Dù đơn giản hóa, báo cáo vẫn phải bảo đảm các nội dung cốt lõi: nhận dạng đầy đủ nguồn thải, tính toán tải lượng, đánh giá khả năng chịu tải môi trường, mô hình lan truyền khí thải/nước thải khi cần thiết, phương án xử lý chất thải, phòng ngừa sự cố và tham vấn cộng đồng.

2.4. Tăng tính linh hoạt trong giấy phép môi trường theo giai đoạn, hạng mục

Dự thảo sửa đổi Điều 42 theo hướng cho phép giấy phép môi trường được cấp cho từng giai đoạn, từng công trình hoặc hạng mục công trình có phát sinh chất thải đối với dự án thực hiện theo nhiều giai đoạn. Đây là quy định rất phù hợp với thực tiễn các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu dân cư, khu đô thị, dự án hạ tầng lớn hoặc dự án phân kỳ đầu tư.
Điểm này khắc phục một hạn chế phổ biến hiện nay, nhiều dự án chưa thể vận hành đồng bộ toàn bộ công suất ngay từ đầu, nhưng vẫn phải xin giấy phép môi trường hoặc tổ chức vận hành thử theo cách gần như toàn bộ. Dự thảo cho phép cấp giấy phép theo giai đoạn sẽ giúp quản lý sát thực tế hơn, đồng thời tránh tình trạng doanh nghiệp phải “chạy thủ tục” cho những hạng mục chưa xây dựng hoặc chưa phát sinh chất thải.
Đây là điểm rất đáng ủng hộ, nhưng cần bổ sung điều kiện kiểm soát: Mỗi giai đoạn cấp phép phải có ranh giới công nghệ rõ, công trình xử lý chất thải độc lập hoặc có khả năng tiếp nhận tương ứng, có phương án đấu nối, quan trắc và ứng phó sự cố riêng.

2.5. Điều chỉnh thời điểm có giấy phép môi trường phù hợp hơn với thực tế

Dự thảo quy định dự án thuộc đối tượng ĐTM phải có giấy phép môi trường sau khi hoàn thành công trình bảo vệ môi trường và trước khi thực hiện hoạt động xả nước thải, khí thải ra môi trường trong giai đoạn vận hành. Đây là điểm thay đổi rất quan trọng.

Cách quy định này hợp lý hơn so với cách hiểu “cấp phép trước khi vận hành thử” trong nhiều trường hợp hiện nay. Bản chất của giấy phép môi trường là cho phép xả thải có điều kiện. Do đó, nếu công trình xử lý chất thải chưa hoàn thành thì việc cấp phép có thể dẫn đến nghịch lý: giấy phép được cấp khi chưa đủ cơ sở kỹ thuật để chứng minh khả năng xử lý. Dự thảo đã đưa giấy phép môi trường về gần hơn với bản chất hậu kiểm kỹ thuật: hoàn thành công trình trước, sau đó cấp phép trước khi xả thải vận hành.
Tuy nhiên, cần quy định rõ thêm mối quan hệ giữa “hoàn thành công trình bảo vệ môi trường”, “vận hành thử nghiệm”, “xả thải trong vận hành thử” và “xả thải trong vận hành chính thức”. Nếu không làm rõ, địa phương và doanh nghiệp vẫn có thể lúng túng khi dự án chưa đủ nước thải để vận hành liên tục, nhất là khu dân cư, khu công nghiệp, cụm công nghiệp có tỷ lệ lấp đầy thấp.

2.6. Bổ sung cơ chế quản lý chất thải như tài nguyên và sản phẩm tái chế

Dự thảo sửa đổi Điều 72 và bổ sung Điều 72a là một trong những điểm tiến bộ nhất. Theo đó, chất thải đáp ứng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật của nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu có thể được quản lý như sản phẩm, hàng hóa; một số chất thải rắn công nghiệp thông thường, chất thải rắn sinh hoạt có khả năng tái sử dụng, tái chế được sử dụng trực tiếp làm nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu mà không phải quản lý theo quy định về quản lý chất thải.
Đây là bước chuyển quan trọng từ tư duy “chất thải là gánh nặng” sang “chất thải là tài nguyên thứ cấp”. Quy định này sẽ thúc đẩy thị trường vật liệu tái chế, nhiên liệu thay thế, đồng xử lý chất thải, thu hồi năng lượng và công nghiệp môi trường.
Việc bổ sung Điều 72a về quản lý sản phẩm tái chế từ hoạt động xử lý, tái chế chất thải cũng rất cần thiết. Dự thảo xác định sản phẩm tái chế khi lưu thông trên thị trường phải đáp ứng pháp luật về chất lượng sản phẩm, hàng hóa; Nhà nước ưu tiên sử dụng sản phẩm tái chế trong mua sắm công, dự án sử dụng vốn nhà nước, hạ tầng, xây dựng, giao thông, nông nghiệp và môi trường. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để phát triển thị trường đầu ra cho sản phẩm tái chế.

2.7. Cải cách phân loại chất thải rắn sinh hoạt

Dự thảo đưa ra hai phương án phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại Điều 75. Phương án 1 gồm ba nhóm: Chất thải có khả năng tái sử dụng, tái chế; chất thải thực phẩm; chất thải rắn sinh hoạt khác. Phương án 2 gồm hai nhóm: Chất thải có khả năng tái sử dụng, tái chế và chất thải rắn sinh hoạt khác.
Về kỹ thuật môi trường, Phương án 1 là phù hợp hơn vì tách riêng chất thải thực phẩm sẽ tạo điều kiện cho ủ phân hữu cơ, sản xuất thức ăn chăn nuôi, xử lý sinh học, giảm độ ẩm rác và nâng cao hiệu quả đốt rác phát điện. Nếu chỉ phân loại hai nhóm, chất thải thực phẩm sẽ lẫn vào nhóm còn lại, làm tăng độ ẩm, phát sinh mùi, nước rỉ rác và giảm giá trị tái chế.
Tuy nhiên, Phương án 1 đòi hỏi hạ tầng thu gom riêng, phương tiện riêng, lịch thu gom riêng và cơ sở xử lý hữu cơ. Vì vậy, nên lựa chọn Phương án 1 nhưng cho phép địa phương áp dụng theo lộ trình, trước hết tại đô thị loại đặc biệt, đô thị loại I, khu du lịch, khu công nghiệp, khu dân cư mới và các địa phương đã có cơ sở xử lý hữu cơ.

2.8. Hoàn thiện khung pháp lý về kiểm kê khí nhà kính và thị trường các-bon

Dự thảo sửa đổi Điều 91, Điều 139 và bổ sung Điều 139a, tạo khung pháp lý tương đối toàn diện cho quản lý phát thải khí nhà kính, phân bổ hạn ngạch, kiểm kê cấp cơ sở, hệ thống báo cáo trực tuyến, giao dịch hạn ngạch, tín chỉ các-bon và trao đổi quốc tế kết quả giảm phát thải.
Đây là bước tiến quan trọng để Việt Nam thực hiện cam kết giảm phát thải, NDC, mục tiêu trung hòa các-bon và hội nhập cơ chế thị trường theo Thỏa thuận Paris. Đặc biệt, quy định cơ sở được phân bổ hạn ngạch chỉ được phát thải trong hạn ngạch, được vay mượn, nộp trả, chuyển giao hạn ngạch và sử dụng tín chỉ các-bon để bù trừ là nền tảng cho hệ thống mua bán phát thải.
Tuy nhiên, đây cũng là nhóm quy định có tính phức tạp cao nhất. Nếu thiếu quy định kỹ thuật về MRV, đơn vị thẩm định độc lập, tiêu chuẩn tín chỉ, điều chỉnh tương ứng, giới hạn chuyển giao quốc tế, cơ chế chống đầu cơ và trách nhiệm thuế – kế toán, thị trường các-bon có thể vận hành thiếu minh bạch hoặc gây rủi ro pháp lý cho doanh nghiệp.

2.9. Đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý môi trường

Dự thảo sửa đổi Điều 115 theo hướng xây dựng nền tảng dữ liệu môi trường quốc gia, thực hiện thủ tục hành chính môi trường trên môi trường điện tử, hồ sơ và kết quả giải quyết thủ tục hành chính ở dạng dữ liệu điện tử có giá trị pháp lý, tổ chức cá nhân chỉ khai báo một lần đối với thông tin đã có trong cơ sở dữ liệu.
Đây là điểm đổi mới rất tích cực, phù hợp với cải cách thủ tục hành chính và quản lý nhà nước dựa trên dữ liệu. Nếu triển khai tốt, quy định này sẽ giảm trùng lặp hồ sơ giữa ĐTM, giấy phép môi trường, đăng ký môi trường, báo cáo quan trắc, báo cáo chất thải, kiểm kê khí nhà kính và thanh tra – kiểm tra.
Tuy nhiên, để khả thi cần có chuẩn dữ liệu thống nhất, chữ ký số, cơ chế xác thực dữ liệu, phân quyền truy cập, bảo mật thông tin doanh nghiệp và tích hợp với hệ thống dữ liệu đầu tư, xây dựng, đất đai, tài nguyên nước, khoáng sản, hải quan và thuế.

  1. Những hạn chế và rủi ro pháp lý cần tiếp tục hoàn thiện

3.1. Một số quy định còn giao quá nhiều cho Chính phủ và Bộ hướng dẫn

Dự thảo có nhiều điều khoản kết thúc bằng cụm “Chính phủ quy định chi tiết” hoặc “Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường quy định chi tiết”. Việc giao hướng dẫn là cần thiết, nhưng nếu quá nhiều nội dung cốt lõi bị đẩy xuống nghị định, thông tư thì Luật sẽ thiếu tính ổn định và khó bảo đảm quyền – nghĩa vụ của người dân, doanh nghiệp.
Các nội dung nên được quy định rõ hơn ngay trong Luật gồm:
– Tiêu chí tối thiểu phân biệt ĐTM chi tiết và ĐTM đơn giản;
– Nguyên tắc cấp giấy phép môi trường theo giai đoạn;
– Điều kiện chất thải được chuyển thành nguyên liệu, sản phẩm;
– Nguyên tắc phân bổ hạn ngạch phát thải khí nhà kính;
– Nguyên tắc bảo vệ quyền lợi cộng đồng trong tham vấn môi trường.

3.2. ĐTM đơn giản có nguy cơ làm giảm chất lượng đánh giá nếu không kiểm soát chặt

Việc tách ĐTM chi tiết và ĐTM đơn giản là cải cách đúng hướng, nhưng cũng tiềm ẩn nguy cơ một số dự án có tác động đáng kể nhưng được lập báo cáo quá sơ sài. Đặc biệt, dự án nhóm II vẫn có thể phát sinh nước thải, khí thải, chất thải nguy hại, tiếng ồn, mùi, tác động giao thông, rủi ro hóa chất hoặc tác động tích lũy đến nguồn tiếp nhận.
Do đó, Luật nên quy định nguyên tắc: Dù là ĐTM đơn giản, nếu dự án có xả nước thải vào nguồn tiếp nhận nhạy cảm, có ống khí thải công suất lớn, có hóa chất nguy hại, có mùi, có chuyển đổi đất lúa, đất rừng, đất ngập nước hoặc gần khu dân cư thì phải có nội dung đánh giá chuyên sâu tương ứng.

3.3. Quy định về giấy phép môi trường sau khi hoàn thành công trình cần làm rõ quan hệ với vận hành thử nghiệm

Dự thảo bỏ hoặc sửa nhiều nội dung liên quan đến vận hành thử nghiệm. Đây là hướng giảm thủ tục, nhưng nếu không quy định rõ thì sẽ phát sinh khoảng trống: khi chưa có giấy phép môi trường, dự án có được xả thải trong quá trình vận hành thử công trình xử lý chất thải hay không; nếu có thì xả trong giới hạn nào, thời gian bao lâu, quan trắc ra sao, trách nhiệm khi không đạt quy chuẩn thế nào.
Đối với khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu dân cư, lượng nước thải phụ thuộc tỷ lệ lấp đầy; nếu bắt buộc vận hành liên tục 3–6 tháng ở công suất cao sẽ không khả thi. Ngược lại, nếu không vận hành thử thì không có cơ sở chứng minh công trình xử lý đạt yêu cầu. Vì vậy, cần thiết kế cơ chế vận hành thử linh hoạt theo tải lượng thực tế, cho phép vận hành gián đoạn, vận hành theo mô-đun, vận hành theo tỷ lệ lấp đầy nhưng phải có kế hoạch quan trắc và báo cáo rõ.

3.4. Quy định chất thải được sử dụng làm nguyên liệu cần tránh bị lợi dụng để hợp thức hóa chuyển giao chất thải

Quy định chất thải đáp ứng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật được quản lý như sản phẩm, hàng hóa là rất tiến bộ. Tuy nhiên, đây cũng là vùng có nguy cơ bị lợi dụng. Nếu danh mục, tiêu chuẩn kỹ thuật và cơ chế kiểm soát không rõ, một số chủ thể có thể “đổi tên chất thải thành nguyên liệu” để né nghĩa vụ quản lý chất thải, đặc biệt với tro xỉ, bùn thải, thạch cao, chất thải công nghiệp thông thường lẫn tạp chất, chất thải có nguy cơ chứa kim loại nặng hoặc chất ô nhiễm khó phân hủy.
Vì vậy, cần bổ sung nguyên tắc: Chất thải chỉ được thoát khỏi chế độ quản lý chất thải khi đáp ứng đồng thời ba điều kiện: Có mục đích sử dụng hợp pháp; đáp ứng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật tương ứng; và không gây rủi ro vượt ngưỡng đối với sức khỏe con người, đất, nước, không khí trong điều kiện sử dụng thực tế.

3.5. Quy định về phân loại rác sinh hoạt còn thiếu cơ chế tài chính đi kèm

Dự thảo giao UBND cấp tỉnh quyết định phân loại cụ thể và chính sách thúc đẩy phân loại. Tuy nhiên, nếu không có cơ chế tài chính rõ, phân loại tại nguồn sẽ khó thực hiện. Luật BVMT 2020 đã đặt nền tảng cho thu phí rác theo khối lượng hoặc thể tích, nhưng thực tế triển khai còn chậm. Nếu sửa Luật lần này không làm rõ cơ chế phí, bao bì, nhận diện, xử phạt và quyền từ chối thu gom, phân loại rác vẫn có nguy cơ hình thức.
Nên quy định rõ hơn nguyên tắc: Người phát sinh nhiều chất thải phải trả chi phí cao hơn; người phân loại đúng được giảm chi phí; chất thải tái chế được khuyến khích chuyển giao trực tiếp; chất thải thực phẩm được ưu tiên xử lý tại chỗ hoặc thu gom riêng.

3.6. Thị trường các-bon cần thêm cơ chế bảo vệ lợi ích quốc gia

Dự thảo đã bổ sung Điều 139a về trao đổi quốc tế kết quả giảm phát thải khí nhà kính và tín chỉ các-bon. Đây là quy định rất quan trọng. Tuy nhiên, cần làm rõ hơn nguyên tắc bảo vệ “không gian carbon quốc gia”. Nếu doanh nghiệp chuyển quá nhiều tín chỉ chất lượng cao ra nước ngoài, Việt Nam có thể gặp khó khăn khi thực hiện NDC không điều kiện.
Do đó, cần quy định chặt về: Danh mục loại dự án được chuyển giao quốc tế; tỷ lệ giữ lại trong nước; điều chỉnh tương ứng; quyền ưu tiên của Nhà nước đối với tín chỉ từ dự án sử dụng đất công, rừng, tài nguyên quốc gia hoặc vốn nhà nước; và cơ chế chia sẻ lợi ích với cộng đồng địa phương.

  1. Kiến nghị hoàn thiện Dự thảo Luật

4.1. Kiến nghị về ĐTM và phân loại dự án

Thứ nhất, cần bổ sung vào Điều 28 nguyên tắc lượng hóa tiêu chí phân loại dự án. Các khái niệm “quy mô lớn”, “mức độ chiếm dụng lớn”, “nguy cơ tác động xấu mức độ cao” cần có tiêu chí tối thiểu ngay trong Luật hoặc phụ lục kèm Luật, tránh phụ thuộc hoàn toàn vào nghị định.
Thứ hai, cần quy định rõ “ĐTM đơn giản” không đồng nghĩa với cắt bỏ đánh giá kỹ thuật thiết yếu. Đối với dự án nhóm II có xả nước thải, khí thải, mùi, tiếng ồn, hóa chất, nguy cơ sự cố hoặc nằm gần khu dân cư, báo cáo vẫn phải có tính toán tải lượng, so sánh quy chuẩn, đánh giá nguồn tiếp nhận và biện pháp kiểm soát cụ thể.
Thứ ba, nên bổ sung quy định về trách nhiệm của đơn vị tư vấn ĐTM. Dự thảo đã đề cập yêu cầu năng lực và công khai tổ chức lập báo cáo không trung thực. Cần bổ sung cơ chế xếp hạng, đình chỉ, thu hồi điều kiện hành nghề hoặc cấm tham gia lập ĐTM trong thời hạn nhất định đối với đơn vị cố ý lập báo cáo sai sự thật.

4.2. Kiến nghị về giấy phép môi trường và vận hành thử nghiệm

Thứ nhất, cần bổ sung một điều hoặc khoản riêng về vận hành thử nghiệm công trình xử lý chất thải sau khi Dự thảo điều chỉnh Điều 46. Quy định nên cho phép vận hành thử theo công suất thực tế, theo mô-đun, theo phân kỳ, theo tỷ lệ lấp đầy đối với khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu dân cư và khu đô thị.
Thứ hai, cần quy định rõ trường hợp trong thời gian vận hành thử có phát sinh nước thải, khí thải thì chủ dự án được xả thải có điều kiện theo kế hoạch vận hành thử đã được chấp thuận hoặc tích hợp trong hồ sơ cấp phép, nhưng phải quan trắc, báo cáo và chịu trách nhiệm nếu gây ô nhiễm.
Thứ ba, đối với dự án chưa đủ nguồn nước thải để vận hành liên tục, cần cho phép vận hành gián đoạn, vận hành theo mẻ, tuần hoàn nước thử hoặc bổ sung nước sạch để kiểm tra thủy lực, nhưng không được dùng kết quả này thay thế hoàn toàn cho đánh giá hiệu quả xử lý ô nhiễm khi có nước thải thực tế.

4.3. Kiến nghị về chất thải, sản phẩm tái chế và kinh tế tuần hoàn

Thứ nhất, nên giữ và hoàn thiện Điều 72a vì đây là nền tảng pháp lý quan trọng cho công nghiệp tái chế. Tuy nhiên, cần bổ sung khái niệm “điểm kết thúc chất thải” (end-of-waste criteria) để xác định thời điểm chất thải không còn bị quản lý như chất thải mà được quản lý như sản phẩm, nguyên liệu, nhiên liệu hoặc vật liệu.
Thứ hai, cần xây dựng danh mục ưu tiên ban hành tiêu chuẩn, quy chuẩn cho sản phẩm tái chế từ chất thải sinh hoạt và công nghiệp, ví dụ: compost từ chất thải hữu cơ; RDF/SRF; tro xỉ làm vật liệu xây dựng; nhựa tái chế; kim loại tái chế; thạch cao tái chế; vật liệu san lấp từ chất thải đã xử lý.
Thứ ba, nên bổ sung cơ chế mua sắm công xanh bắt buộc theo tỷ lệ tối thiểu đối với một số sản phẩm tái chế đạt chuẩn. Nếu chỉ dừng ở “ưu tiên sử dụng”, thị trường sản phẩm tái chế sẽ khó phát triển.

4.4. Kiến nghị về phân loại chất thải rắn sinh hoạt

Nên lựa chọn Phương án 1 tại Điều 75, tức phân loại thành ba nhóm: chất thải có khả năng tái sử dụng, tái chế; chất thải thực phẩm; chất thải rắn sinh hoạt khác. Đây là phương án phù hợp hơn về kỹ thuật xử lý, giảm nước rỉ rác, giảm mùi, tăng hiệu quả tái chế và tạo điều kiện phát triển xử lý sinh học.
Tuy nhiên, Luật nên cho phép áp dụng theo lộ trình vùng miền. Đô thị lớn, khu du lịch, khu dân cư mới và địa phương có cơ sở xử lý hữu cơ áp dụng trước. Khu vực nông thôn, miền núi, hải đảo có thể áp dụng linh hoạt, khuyến khích xử lý chất thải thực phẩm tại hộ gia đình hoặc cộng đồng.

4.5. Kiến nghị về thị trường các-bon

Thứ nhất, cần bổ sung nguyên tắc tín chỉ các-bon là quyền tài sản đặc thù nhưng không đồng nhất với chứng khoán, hàng hóa thông thường hoặc tài sản tài chính nếu chưa có luật chuyên ngành điều chỉnh. Điều này giúp tránh xung đột với pháp luật chứng khoán, dân sự, thuế và kế toán.
Thứ hai, cần quy định rõ cơ chế điều chỉnh tương ứng khi chuyển giao tín chỉ ra nước ngoài, tránh tính hai lần và bảo vệ mục tiêu NDC không điều kiện của Việt Nam.
Thứ ba, nên quy định tỷ lệ tín chỉ phải giữ lại trong nước đối với dự án sử dụng tài nguyên quốc gia, rừng, đất công, vốn ngân sách, ODA hoặc dự án có sự tham gia của cộng đồng địa phương.

Thứ tư, cần xây dựng cơ chế chia sẻ lợi ích trong các dự án carbon rừng, nông nghiệp, chất thải và năng lượng tái tạo, bảo đảm người dân, cộng đồng, địa phương và chủ dự án đều được hưởng lợi hợp lý.

4.6. Kiến nghị về chuyển đổi số và dữ liệu môi trường

Cần bổ sung quy định về chuẩn dữ liệu môi trường quốc gia, bao gồm dữ liệu ĐTM, giấy phép môi trường, đăng ký môi trường, quan trắc tự động, chất thải nguy hại, chất thải công nghiệp thông thường, kiểm kê khí nhà kính, tín chỉ các-bon và thanh tra – kiểm tra.
quan-trac.jpg

Hình 2. Quan trắc chất thải

Đồng thời, cần quy định rõ giá trị pháp lý của dữ liệu quan trắc tự động, dữ liệu điện tử do doanh nghiệp cung cấp, dữ liệu được xác thực bởi cơ quan nhà nước và dữ liệu do bên thứ ba kiểm định. Nếu không làm rõ, dữ liệu số có thể khó sử dụng làm căn cứ cấp phép, hậu kiểm hoặc xử lý vi phạm.

4.7. Kiến nghị về trách nhiệm của địa phương

Dự thảo bổ sung trách nhiệm Chủ tịch UBND cấp tỉnh đối với vấn đề ô nhiễm môi trường xảy ra trên địa bàn. Đây là quy định mạnh, nhưng cần làm rõ phạm vi trách nhiệm để tránh quy trách nhiệm hình thức.
Nên phân biệt ba loại trách nhiệm:

  • Trách nhiệm quản lý nhà nước;
  • Trách nhiệm do buông lỏng kiểm tra, giám sát;
  • Trách nhiệm trực tiếp của tổ chức, cá nhân gây ô nhiễm.

Đối với ô nhiễm liên tỉnh, lưu vực sông, vùng biển, khu công nghiệp có nhà đầu tư thứ cấp hoặc nguồn thải vượt địa giới hành chính, cần có cơ chế phối hợp và phân định trách nhiệm rõ giữa Bộ, tỉnh, ban quản lý khu công nghiệp, chủ đầu tư hạ tầng và cơ sở phát sinh chất thải.

  1. Kết luận

Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung Luật BVMT ngày 31/03/2026 là một bước cải cách lớn, có nhiều điểm tích cực. Tuy nhiên, Dự thảo vẫn cần tiếp tục hoàn thiện để tránh ba rủi ro chính: Đơn giản hóa thủ tục nhưng làm giảm chất lượng kiểm soát môi trường; mở rộng sử dụng chất thải làm nguyên liệu nhưng thiếu tiêu chuẩn an toàn; và phát triển thị trường các-bon nhưng chưa bảo đảm đầy đủ lợi ích quốc gia, cộng đồng và tính minh bạch.
Dưới góc độ chuyên gia, kiến nghị trọng tâm là: Giữ định hướng cải cách của Dự thảo, nhưng bổ sung các điều kiện kỹ thuật tối thiểu, cơ chế hậu kiểm bằng dữ liệu, trách nhiệm của tư vấn – chủ dự án – cơ quan thẩm định, quy định rõ vận hành thử nghiệm linh hoạt, lựa chọn phương án phân loại rác ba nhóm và hoàn thiện khung pháp lý về điểm kết thúc chất thải, sản phẩm tái chế và thị trường các-bon. Đây là các nội dung then chốt để Luật BVMT sửa đổi vừa giảm thủ tục hành chính, vừa nâng cao hiệu lực bảo vệ môi trường, vừa tạo nền tảng pháp lý cho kinh tế xanh và công nghiệp môi trường Việt Nam.

Tin liên quan

Xây dựng tiêu chuẩn “Hàng hóa” hình thành từ rác thải sinh hoạt trong phát triển ngành công nghiệp môi trường Việt Nam
Khoa học - Công nghệ

Xây dựng tiêu chuẩn “Hàng hóa” hình thành từ rác thải sinh hoạt trong phát triển ngành công nghiệp môi trường Việt Nam

24/03/2026
Nguồn lực sản phẩm trong thời đại số
Khoa học - Công nghệ

Nguồn lực sản phẩm trong thời đại số

10/03/2026
Cảnh báo thảm hoạ môi trường từ các cuộc xung đột vũ trang hiện đại
Tin tức

Cảnh báo thảm hoạ môi trường từ các cuộc xung đột vũ trang hiện đại

10/03/2026
Mùa Xuân của những cánh sao vàng
Tin tức

Mùa Xuân của những cánh sao vàng

18/01/2026
Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) thành phố Hồ Chí Minh
Tin tức

Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) thành phố Hồ Chí Minh

19/10/2025

Bài nổi bật

Thị trường hoa ‘trầm lắng’, siêu thị giảm giá ‘sốc’ dịp 20/10

Thị trường hoa ‘trầm lắng’, siêu thị giảm giá ‘sốc’ dịp 20/10

28/10/2021
trungtamtoanhocvatly-617c2144e6fec

Ra mắt 2 trung tâm quốc tế về vật lý và toán học được UNESCO công nhận

30/10/2021
VinGroup tiên phong một số đóng góp cho phòng chống Covid-19

VinGroup tiên phong một số đóng góp cho phòng chống Covid-19

28/10/2021

Duyệt theo thẻ

AI baiphatbieu baovemoitruong bsphamvinhquang carbon chutichnuoctolam congnghe congnghexanh doanhnhan dotquy dvis enzyme FDI gdp gout hientuongluongtu hientuongluongtutrongenzyme ionam khoahoc kinhdoanh kynguyenmoi lucgiac moitruong neroh ngocleninh nguồn lực nhân vật NSƯT Hồng Hạnh - Giám đốc Nhà hát nuoclucgiac nuocnangluongsongnuocneroh phamvinhquang quochoithuxv songterahertz suckhoe tin tức tolam trituenhantao trolyAI TS. Trịnh Xuân Đức tstrinhxuanduc Tết ungdungAI vietnam viện SIIEE yhoc

Cơ quan chủ quản: VIỆN KHOA HỌC KỸ THUẬT HẠ TẦNG VÀ MÔI TRƯỜNG (SIIEE)

Viện trưởng: Tiến sĩ TRỊNH XUÂN ĐỨC

Chỉ đạo nội dung: Nhà văn CAO THÂM

Vận hành bởi TRUNG TÂM TÁC PHẨM MỚI

Giám đốc Truyền thông (SIIEE): TRẦN THỊ NHƯ PHƯƠNG

Địa chỉ: Số 33, lô 2A,  đường Trung Yên 11, P. Trung Hòa, Q.Cầu Giấy, Hà Nội

Email: vienkhoahocsiiee@gmail.com

Điện thoại: 0896 681 499 – 0983 585 466

Website đang làm thủ tục cấp phép, điều hành phi lợi nhuận bởi các tình nguyện viên.

Không có kết quả
Hiện thị tất cả kết quả
  • Trang chủ
  • Tin tức
  • Lao động – Sáng Tạo
  • Khoa học – Công nghệ
  • Nhân vật
  • Thương hiệu
  • Văn Hóa – Xã Hội

Website hiện tại đang trong quá trình lập trình và chạy thử trên mạng internet